Thứ Tư, 9 tháng 5, 2012

Xu hướng thị trường


Xu hướng là chiều hướng của thị trường, là con đường mà thị trường đang di chuyển. ... TỔNG QUAN VỀ XU HƯỚNG THỊ TRƯỜNG Trong các cẩm nang đầu tư và giao dịch chứng khoán chúng ta thường được lĩnh hội các chỉ dẫn cơ bản: - Nên giao dịch theo xu hướng thị trường. - Tránh giao dịch ngược xu hướng. - Xu hướng thị trường luôn là người bạn của chúng ta. Vì vậy, nội dung xu hướng thị trường có một tầm quan trọng đặc biệt trong phương pháp Phân tích kỹ thuật và là yếu tố cực kỳ cần thiết để phân tích thị trường. Khi phân tích thị trường bằng các đồ thị giá và mô hình giá, chúng ta thường sử dụng: - Đường xu hướng, kênh và đường kênh. - Các mức hỗ trợ và kháng cự. - Các mô hình biến động giá. - Các chỉ số: trung bình động. đều nhằm mục đích duy nhất: xác định và đánh giá xu hướng thị trường. ĐỊNH NGHĨA: Xu hướng là chiều hướng của thị trường, là con đường mà thị trường đang di chuyển. PHÂN LOẠI: Theo thời gian, giá cả một cổ phiếu biến động liên tục trải qua nhiều giai đoạn khác nhau. Vì vậy, có nhiều cách phân loại khác nhau: theo sự biến động giá và theo thời gian. A. Phân loại theo biến động giá: Về tổng quát, sự biến động giá trong một giai đoạn nhất định gồm hai phần chính: dập dềnh và có xu hướng (tăng hoặc giảm) cụ thể: 1. Xu hướng dập dềnh (còn gọi: không đổi, không xu hướng) Giá cổ phiếu không thực sự tăng/giảm. Giá cổ phiếu luôn xoay quanh một mức giá cố định. Các đỉnh và các đáy nằm ngang, biểu hiện thị trường đang đứng giá hoặc giá thay đổi rất ít. Chú ý: Mỗi giai đoạn dập dềnh đều có hai giá trị, coi như hai ngưỡng: "hỗ trợ và kháng cự". Hai mức chống đỡ và kháng cự là phạm vi biến động giá của biến động dập dềnh. Nên nắm vững các đặc điểm kể trên vì sau này khi nghiên cứu các chỉ số Phân tích kỹ thuật ta sẽ thấy có những chỉ số không thể áp dụng được với thị trường dập dềnh. 2. Xu hướng tăng: Gồm một chuỗi các đỉnh và các đáy liên tục cao hơn. Biểu hiện thị trường đang tăng giá. 3. Xu hướng giảm: Gồm một chuỗi các đỉnh và các đáy liên tục thấp hơn. Biểu hiện thị trường đang giảm giá. B. Phân loại theo thời gian: 1. Xu hướng chính (còn gọi: dài hạn): Thường kéo dài hơn một năm. 2. Xu hướng trung gian (còn gọi: trung hạn): Thường từ ba tuần đến vài tháng. 3. Xu hướng ngắn hạn: Thường kéo dài vài ba tuần. Xu hướng thị trường phản ánh tỷ lệ biến đổi trung bình của giá cổ phiếu theo thời gian. Giá cổ phiếu không di chuyển theo một đường thẳng mà thể hiện bằng một chuỗi các đường zíc-zắc tạo nên các đỉnh và các đáy rõ ràng. Chiều hướng các đỉnh/đáy đó tạo nên xu hướng của thị trường.... TÍNH CHẤT VÀ ĐẶC ĐIỂM A. ĐẶC ĐIỂM VỀ CẤU TẠO: Xu hướng thị trường phản ánh tỷ lệ biến đổi trung bình của giá cổ phiếu theo thời gian. Giá cổ phiếu không di chuyển theo một đường thẳng mà thể hiện bằng một chuỗi các đường zíc-zắc tạo nên các đỉnh và các đáy rõ ràng. Chiều hướng các đỉnh/đáy đó tạo nên xu hướng của thị trường. B. ĐẶC ĐIỂM VỀ HÌNH THÁI: Các xu hướng tồn tại trong mọi thời gian, mọi thị trường và có khả năng ổn định theo thời gian. Một cổ phiếu có giá tăng/giảm sẽ tiếp tục tăng/giảm và chỉ chấm dứt tới khi có sự biến động về giá hoặc một trạng thái nào đó xảy ra. 1. Theo xu hướng tăng: Một xu hướng giá tăng được coi là vẫn đang duy trì khi xuất hiện một đáy mới thấp hơn đáy trước đó. Theo xu hướng tăng, một cổ phiếu hồi phục thường có một "giai đoạn quá độ" giữa tính ổn định và các biến động giảm. Vì vậy, trên đồ thị giá nó sẽ hình thành hàng loạt các điểm cao hơn và đáy thấp hơn. Qua đó, ta dự đoán: thị trường có thể tăng giá. 2. Theo xu hướng giảm: Một xu hướng giá giảm được coi là vẫn đang tiếp tục tới khi xuất hiện một đỉnh cao hơn đỉnh trước đó. Theo xu hướng giảm, một cổ phiếu suy giảm cũng có một "giai đoạn quá độ" giữa tính ổn định và biến động tăng. Vì vậy, trên biểu đồ giá nó sẽ tạo ra hàng loạt các đỉnh thấp hơn và đáy thấp hơn. Từ đó suy ra: giá cổ phiếu có khả năng giảm. 3. Theo xu hướng dập dềnh (không đổi) Giá cổ phiếu không thay đổi hoặc thay đổi rất ít. Giá giao động lên xuống trong thời gian dài và biến động này không thể hiện rõ ràng trên biểu đồ giá. 4. Một xu hướng này có thể tương tác với một xu hướng khác nghĩa là mỗi xu hướng có thể trở thành một phần của xu hướng lớn hơn tiếp theo. ĐƯỜNG XU HƯỚNG KHÁI NIỆM: Chúng ta nghiên cứu xu hướng tăng/giảm của thị trường dưới dạng đường thẳng - đường xu hướng. Đường xu hướng tăng là đường thẳng nối các đáy cao dần và ngược lại, đường xu hướng giảm là đường nối các đỉnh thấp dần. CÁCH VẼ: 1. Nguyên lý: - Điều kiện cơ bản: phải chắc chắn có một xu hướng tăng/giảm rõ rệt xuất hiện - Phải có tối thiểu hai đỉnh và các đỉnh và đáy sau cao hơn hoặc thấp hơn đỉnh và đáy trước. Hai đỉnh hoặc hai đáy là điều kiện cần và đủ để có một đường xu hướng. Muốn chính xác với độ tin cậy cao luôn cần tìm đỉnh/đáy thứ 3 sao cho đường xu hướng qua 3 đỉnh. Thực tế đỉnh/đáy thứ 3 gần sát đường xu hướng là chấp nhận được. - Thường dùng các loại giá mở cửa, cao nhất, thấp nhất hay giá đóng cửa để vẽ các đường xu hướng. Đồng thời xác định khoảng thời gian cần xét đến (ngày, tuần, tháng, năm). 2. Cách vẽ: - Khi giá đang biến đổi tăng, nối các điểm thấp nhất rồi kéo dài tới ngày hoàn thành, ta được đường xu hướng tăng. - Khi giá đang biến động giảm, kẻ một đường thẳng nối các điểm cao nhất của đường rồi kéo dài tới ngày, hôm nay, ta được đường xu hướng giảm. - Càng nối được nhiều điểm, độ chính xác càng cao.
TÍNH CHẤT: 1. Trong xu hướng tăng: Đường xu hướng tăng cho ta biết thị trường sẽ tiếp tục xu hướng đó tới khi xu hướng bị bẻ gãy. Khi xu hướng có điều chỉnh, giá sẽ bị kéo xuống (sát lại) đường xu hướng nhưng sẽ không thấp hơn nữa nếu thị trường vẫn ổn định. Khi đó đường xu hướng là biên độ thấp nhất của sự giao động giá. 2. Trong xu hướng giảm: Tương tự đường xu hướng tăng, đường xu hướng giảm xác định hướng di chuyển của toàn bộ xu hướng và chỉ chấm dứt khi đường đó thực sự bị bẽ gãy. Khi đó đường xu hướng giảm là biên độ cao nhất cho mọi hiện tượng giao động giá. 3. Chú ý: Khi nắm vững những điều trên, chúng ta có thể tìm được giá mua/bán tối đa hoặc tối thiểu một cách hợp lý vì đã dựa vào các đường xu hướng - chúng là các biên độ giao động cơ sở. Giá cổ phiếu giao động trong một dải. Dải đó gọi là kênh. Xác định kênh (dải giao động giá) bằng hai đường biên song song với nhau: đường xu hướng và đường kênh.... KÊNH VÀ ĐƯỜNG KÊNH KHÁI NIỆM: Giá cổ phiếu giao động trong một dải. Dải đó gọi là kênh. Xác định kênh (dải giao động giá) bằng hai đường biên song song với nhau: đường xu hướng và đường kênh. CÁCH VẼ: Bước 1: vẽ xu hướng tăng/giảm Bước 2: vẽ đường kênh: là một đường song song với đường xu hướng và đi qua đỉnh/đáy đầu tiên rõ nhất. Đường kênh nằm phía trên đường xu hướng trong xu hướng tăng giá và nằm phía dưới đường xu hướng trong xu hướng giảm giá.
ĐẶC ĐIỂM: 1. Quan hệ giữa đường giá và đường kênh: Mỗi khi đường giá chạm đường kênh rồi quay lại chạm đường xu hướng là một lần thử thành công. Kênh tồn tại càng lâu với nhiều lần thử thành công thì độ tin cậy càng lớn. Khi đường giá vượt khỏi đường kênh một khoảng lớn: báo hiệu xu thế tăng giá đang mạnh dần. Có thể sử dụng kênh cho mục đích kiếm lời ngắn hạn (lướt sóng). Thậm chí có người ưa mạo hiểm còn dùng kênh để giao dịch ngược xu thế thị trường. Nếu tính toán thật chính xác thì lợi nhuận sẽ lớn, tất nhiên độ rủi ro cũng lớn theo và cái giá phải trả hoàn toàn không nhỏ. 2. Quan hệ giữa đường giá, đường kênh và đường xu hướng: Khi giá không chạm, không xuyên phá đường kênh (trong xu hướng tăng) dội ngược trở lại sớm. Tín hiệu: - Dự báo xu hướng hiện tại yếu dần, đổi chiều sang giảm - Dự báo giá sẽ xuyên phá đường xu hướng Khi đường giá xuyên phá đường xu hướng: thị trường có thể đảo chiều xu hướng nhưng: Khi đường giá xuyên phá (vượt ra ngoài) đường kênh - hiện tượng ngược lại: tín hiệu tăng sức mạnh của xu thế hiện tại, thậm chí nó còn có thể xác nhận một xu thế ổn định lâu dài. Từ đó các nhà đầu tư nên nghĩ tới một cơ hội đầu tư dài hạn. Các ví dụ trên xét ở trạng thái thị trường tăng giá (xu hướng tăng). Với xu hướng giảm mới các bạn vẽ lại và kiểm nghiệm lại, âu cũng là một công việc kết hợp lý luận và thực nghiệm - bước đầu làm quen với các công cụ P.T.K.T.
Giá cổ phiếu giao động trong một dải. Dải đó gọi là kênh. Xác định kênh (dải giao động giá) bằng hai đường biên song song với nhau: đường xu hướng và đường kênh.... KÊNH VÀ ĐƯỜNG KÊNH KHÁI NIỆM: Giá cổ phiếu giao động trong một dải. Dải đó gọi là kênh. Xác định kênh (dải giao động giá) bằng hai đường biên song song với nhau: đường xu hướng và đường kênh. CÁCH VẼ: Bước 1: vẽ xu hướng tăng/giảm Bước 2: vẽ đường kênh: là một đường song song với đường xu hướng và đi qua đỉnh/đáy đầu tiên rõ nhất. Đường kênh nằm phía trên đường xu hướng trong xu hướng tăng giá và nằm phía dưới đường xu hướng trong xu hướng giảm giá.
ĐẶC ĐIỂM: 1. Quan hệ giữa đường giá và đường kênh: Mỗi khi đường giá chạm đường kênh rồi quay lại chạm đường xu hướng là một lần thử thành công. Kênh tồn tại càng lâu với nhiều lần thử thành công thì độ tin cậy càng lớn. Khi đường giá vượt khỏi đường kênh một khoảng lớn: báo hiệu xu thế tăng giá đang mạnh dần. Có thể sử dụng kênh cho mục đích kiếm lời ngắn hạn (lướt sóng). Thậm chí có người ưa mạo hiểm còn dùng kênh để giao dịch ngược xu thế thị trường. Nếu tính toán thật chính xác thì lợi nhuận sẽ lớn, tất nhiên độ rủi ro cũng lớn theo và cái giá phải trả hoàn toàn không nhỏ. 2. Quan hệ giữa đường giá, đường kênh và đường xu hướng: Khi giá không chạm, không xuyên phá đường kênh (trong xu hướng tăng) dội ngược trở lại sớm. Tín hiệu: - Dự báo xu hướng hiện tại yếu dần, đổi chiều sang giảm - Dự báo giá sẽ xuyên phá đường xu hướng Khi đường giá xuyên phá đường xu hướng: thị trường có thể đảo chiều xu hướng nhưng: Khi đường giá xuyên phá (vượt ra ngoài) đường kênh - hiện tượng ngược lại: tín hiệu tăng sức mạnh của xu thế hiện tại, thậm chí nó còn có thể xác nhận một xu thế ổn định lâu dài. Từ đó các nhà đầu tư nên nghĩ tới một cơ hội đầu tư dài hạn. Các ví dụ trên xét ở trạng thái thị trường tăng giá (xu hướng tăng). Với xu hướng giảm mới các bạn vẽ lại và kiểm nghiệm lại, âu cũng là một công việc kết hợp lý luận và thực nghiệm - bước đầu làm quen với các công cụ P.T.K.T.
Khi phân tích các biểu đồ giá, phải định vị bằng được các đỉnh và các đáy vì đó là các điểm quan trọng, biểu thị sự chấm dứt khả năng phục hồi hoặc suy giảm của thị trường. Từ đó, chúng ta có thể xác lập được một chiến lược đầu tư hợp lý. Trong thực tế, giao dịch tại một điểm gần đỉnh/đáy bao giờ cũng là những sự lựa chọn tối ưu .... TỔNG KẾT Xu hướng: 1. Khi phân tích các biểu đồ giá, phải định vị bằng được các đỉnh và các đáy vì đó là các điểm quan trọng, biểu thị sự chấm dứt khả năng phục hồi hoặc suy giảm của thị trường. Từ đó, chúng ta có thể xác lập được một chiến lược đầu tư hợp lý. Trong thực tế, giao dịch tại một điểm gần đỉnh/đáy bao giờ cũng là những sự lựa chọn tối ưu . 2. Trong xu hướng thị trường tăng/giảm rõ rệt: - Mua khi thị trường có xu hướng tăng - Nên bán khi thị trường có xu hướng giảm 3. Trong xu hướng trung gian - tăng: Nên mua trong các đợt điều chỉnh giảm giá ngắn hạn trong giai đoạn trung gian - tăng. Đường xu hướng và đường kênh: 4. Trong hai đường biên của kênh: Đường xu hướng và đường kênh, cần chú ý: đường xu hướng giữ vai trò quan trọng và đường kênh chỉ là công cụ kỹ thuật phát sinh từ đường xu hướng. 5. Sử dụng đường xu hướng tăng: Đường xu hướng tăng cho biết thị trường sẽ tiếp tục tăng tới khi xu hướng đó bị bẽ gãy. Mua vào khi giá trên đường xu hướng trong xu hướng tăng. Kiểm tra tín hiệu mua: Khi đường giá di chuyển xuống dưới đường xu hướng tăng nhưng sau đó phục hồi và trở lại, di chuyển lên trên. 6. Sử dụng đường xu hướng giảm: Khi giá nằm dưới đường xu hướng giảm, đó là cơ hội mua vào. Cần phân biệt hiện tượng đường xu hướng giảm một cách thật sự khi giá đang nằm dưới đường xu hướng rồi di chuyển vượt lên trên. Do đó, nên cảnh giác với hiện tượng "cài bẫy": Đột nhiên khối lượng tăng vọt (do mua nhiều) khiến giá tăng vọt, đường giá xuyên phá đường xu hướng trong thời gian ngắn. Ngay sau đó, đâu lại hoàn đấy, giá lại quay lại xu hướng giảm tiếp. Sử dụng: Khi cổ phiếu đang ở trong giai đoạn không có xu hướng (dập dềnh) và giai đoạn tiếp theo là biến động tăng: nên mua vào. Khi giá lên cao hơn: bán ra thu lời. Ngược lại, nếu giai đoạn tiếp theo là biến động giảm: bán ra ngay để cắt lỗ. Nếu xu hướng hiện tại là xu hướng tăng và đang ở giai đoạn đầu ra xu thế này: nên mua vào thuận theo xu thế và bán ra khi giá đã lên cao hơn. Nếu hiện tại là xu thế giảm và đang ở giai đoạn đầu của xu thế này: nên bán ra (thuận theo xu thế) để cắt lỗ. Chú ý: Khi giá đã xuống thấp hơn có thể mua lại để bán ra khi thị trường phục hồi Cần lưu ý: Trong xu thế giảm, các ngưỡng chống cự chưa thể gọi là đáy hay quá trình tích lũy của cổ phiếu (Bài 8: Vấn đề tích lũy và phân phối). Chỉ khi nào chống đỡ trở thành kháng cự mới có thể dùng các khái niệm kể trên. Nếu bất cứ mức chống đỡ nào cũng là đáy thì thị trường đâu còn có rủi ro.

Thứ Ba, 8 tháng 5, 2012

Các loại lệnh trong giao dịch chứng khoán


Trên thị trường chứng khoán, có rất nhiều loại lệnh giao dịch được sử dụng. Nhưng trong thực tế, phần lớn các lệnh giao dịch được người đầu tư sử dụng là lệnh giới hạn và lệnh thị trường...... Trên thị trường chứng khoán, có rất nhiều loại lệnh giao dịch được sử dụng. Nhưng trong thực tế, phần lớn các lệnh giao dịch được người đầu tư sử dụng là lệnh giới hạn và lệnh thị trường. 1.Lệnh thị trường (market order) Lệnh thị trường là lệnh mua hoặc bán chứng khoán nhưng không ghi mức giá, do người đầu tư đưa ra cho người môi giới để thực hiện theo mức giá khớp lệnh. Lệnh thị trường là loại lệnh được sử dụng phổ biến trong các giao dịch chứng khoán. Khi sử dụng loại lệnh này, nhà đầu tư sẵn sàng chấp nhận mua hoặc bán theo mức giá thị trường hiện tại và lệnh của nhà đầu tư luôn luôn được thực hiện. Tuy nhiên, mức giá do quan hệ cung - cầu chứng khoán trên thị trường quyết định. Vì vậy, lệnh thị trường còn được gọi là lệnh không ràng buộc. a.Ưu điểm - Lệnh thị trường là một công cụ hữu hiệu có thể được sử dụng để nâng cao doanh số giao dịch trên thị trường, tăng cường tính thanh khoản của thị trường. - Thuận tiện cho người đầu tư vì họ chỉ cần ra khối lượng giao dịch mà không cần chỉ ra mức giá giao dịch cụ thể và lệnh thị trường được ưu tiên thực hiện trước so với cácloại lệnh giao dịch khác. - Nhà đầu tư cũng như công ty chứng khoán sẽ tiết kiệm được các chi phí do ít gặp phải sai sót hoặc không phải sửa lệnh cũng như huỷ lệnh. b. Hạn chế - Dễ gây ra sự biến động giá bất thường, ảnh hưởng đến tính ổn định giá của thị trường, do lệnh luôn tiềm ẩn khả năng được thực hiện ở mức giá không thể dự tính trước. Vì vậy, các thị trường chứng khoán mới đưa vào vận hành thường ít sử dụng lệnh thị trường. Lệnh thị trường thông thường chỉ được áp dụng đối với các nhà đầu tư lớn, chuyên nghiệp, đã có được các thông tin liên quan đến mua bán và xu hướng vận động giá cả chứng khoán trước, trong và sau khi lệnh được thực hiện. Lệnh thị trường được áp dụng chủ yếu trong các trường hợp bán chứng khoán vì tâm lý của người bán là muốn bán nhanh theo giá thị trường và đối tượng của lệnh này thường là các chứng khoán “nóng”, nghĩa là các chứng khoán đang có sự thiếu hụt hoặc dư thừa tạm thời. 2. Lệnh giới hạn (limit order) Lệnh giới hạn là lệnh mua hoặc bán chứng khoán do người đầu tư đưa ra cho người môi giới thực hiện theo mức giá chỉ định hoặc tốt hơn. Có hai loại lệnh giới hạn: lệnh giới hạn mua và lệnh giới hạn bán. - Lệnh giới hạn mua chỉ ra mức giá mua cao nhất mà người mua chấp nhận thực hiện giao dịch. -Lệnh giới hạn bán chỉ ra mức giá bán thấp nhất mà người bán chấp nhận giao dịch. Một lệnh giới hạn thông thường không thể thực hiện ngay, do đó nhà đầu tư phải xác định thời gian cho phép đến khi có lệnh huỷ bỏ. Trong khoảng thời gian lệnh giới hạn chưa được thực hiện, khách hàng có thể thay đổi mức giá giới hạn. Khi hết thời gian đã định, lệnh chưa được thực hiện hoặc thực hiện chưa đủ mặc nhiên sẽ hết giá trị. Khi ra lệnh giới hạn, nhà đầu tư cần có sự hiểu biết, nhận định chính xác, vì vậythường các lệnh giới hạn được chuyển cho các chuyên gia hơn là các nhà môi giới hoa hồng. a.Ưu điểm - Khách hàng có thể có cơ may mua hoặc bán một loại chứng khoán nào đó với giá tốthơn giá thị trường tại thời điểm lúc ra lệnh. - Lệnh giới hạn giúp nhà đầu tư dự tính được mức lời hoặc lỗ khi giao dịch được thực hiện. b.Nhược điểm Nhà đầu tư khi ra lệnh giới hạn có thể phải chấp nhận rủi ro do mất cơ hội đầu tư, đặc biệt là trong trường hợp giá thị trường bỏ xa mức giá giới hạn (ngoài tầm kiểm soát của khách hàng). Trong một số trường hợp, lệnh giới hạn có thể không được thực hiện ngay cả khi giá giới hạn được đáp ứng vì không đáp ứng được các nguyên tắc ưu tiên trong khớp lệnh. 3. Lệnh dừng (stop order) Lệnh dừng là loại lệnh đặc biệt để đảm bảo cho các nhà đầu tư có thể thu lợi nhuận tạimột mức độ nhất định và phòng chống rủi ro trong trường hợp giá chứng khoán chuyển động theo chiều hướng ngược lại. Sau khi đặt lệnh, nếu giá thị trường đạt tới hoặc vượt qua mức giá dừng thì khi đó lệnh dừng thực tế sẽ trở thành lệnh thị trường.Có hai loại lệnh dừng: Lệnh dừng để bán và lệnh dừng để mua. - Lệnh dừng để bán luôn đặt giá thấp hơn thị giá hiện tại của một chứng khoán muốn bán. - Lệnh dừng để mua luôn đặt giá cao hơn thị giá của chứng khoán cần mua. Lệnh dừng trở thành lệnh thị trường khi giá chứng khoán bằng hoặc vượt quá mức giá ấn định trong lệnh giá dừng. Lệnh dừng thường được các nhà đầu tư chuyên nghiệp áp dụng và không có sự bảo đảm nào cho giá thực hiện sẽ là giá dừng. Như vậy, lệnh dừng khác với lệnh giới hạn ở chỗ: lệnh giới hạn bảo đảm được thực hiện với giá giớihạn hoặc tốt hơn. Các trường hợp sử dụng lệnh dừng: -Sử dụng lệnh dừng để bảo vệ tiền lời của người kinh doanh trong một thươngvụ đã thực hiện. - Sử dụng lệnh dừng để bảo vệ tiền lời của người bán trong một thương vụ bán khống. - Sử dụng lệnh dừng để phòng ngừa sự thua lỗ quá lớn trong trường hợp mua bán ngay. - Sử dụng lệnh dừng để phòng ngừa sự thua lỗ quá lớn trong trường hợp bán trước mua sau. a.Ưu điểm Như vậy, lệnh dừng mua có tác dụng rất tích cực đối với nhà đầu tư trong việc bán khống. Lệnh dừng bán có tác dụng bảo vệ khoản lợi nhuận hoặc hạn chế thua lỗ đối với các nhà đầu tư. b.Nhược điểm Khi có một số lượng lớn các lệnh dừng được “châm ngòi”, sự náo loạn trong giao dịch sẽ xảy ra khi lệnh dừng trở thành lệnh thị trường, từ đó bóp méo giá cả chứng khoán và mục đích của lệnh dừng là giới hạn thua lỗ và bảo vệ lợi nhuận không đượcthực hiện. Để hạn chế nhược điểm trên, người ta tiến hành kết hợp giữa lệnh dừng và lệnh giới hạn thành lệnh dừng giới hạn. Lệnh dừng giới hạn là loại lệnh sử dụng nhằm khắc phục sự bất định về mức giá thực hiện tiềm ẩn trong lệnh dừng. Đối với lệnh dừng giới hạn, người đầu tư phải chỉ rõ hai mức giá: Một mức giá dừng và một mức giá giới hạn. Khi giá thị trường đạt tới hoặc vượt qua mức giá dừng thì lệnh dừng sẽ trở thành lệnh giới hạn thay vì lệnh thị trường. ..... 1.Lệnh dừng giới hạn (stop limit order) Lệnh dừng giới hạn là loại lệnh sử dụng nhằm khắc phục sự bất định về mức giá thực hiện tiềm ẩn trong lệnh dừng. Đối với lệnh dừng giới hạn, người đầu tư phải chỉ rõ hai mức giá: Một mức giá dừng và một mức giá giới hạn. Khi giá thị trường đạt tới hoặc vượt qua mức giá dừng thì lệnh dừng sẽ trở thành lệnh giới hạn thay vì lệnh thị trường. Hạn chế: Không được áp dụng trên thị trường OTC vì không có sự cân bằng giữa giá của nhà môi giới và người đặt lệnh. 2.Lệnh giao dịch tại mức giá khớp lệnh (ATO) Lệnh giao dịch tại mức giá khớp lệnh là lệnh mua hoặc bán chứng khoán nhưng không ghi mức giá, do nhà đầu tư đưa ra cho người môi giới để thực hiện theo mứcgiá khớp lệnh. Khối lượng giao dịch của lệnh được cộng vào tổng khối lượng khớp lệnh và được phân bổ trướ c lệnh giới hạn. 3.Các lệnh khác a.Lệnh mở Lệnh mở là lệnh có hiệu lực vô hạn. Với lệnh này, nhà đầu tư yêu cầu nhà môi giới mua hoặc bán chứng khoán tại mức giá cá biệt và lệnh có giá trị thường xuyên cho đến khi huỷ bỏ. b. Lệnh sửa đổi Lệnh sửa đổi là lệnh do nhà đầu tư đưa vào hệ thống để sửa đổi một số nội dung vào lệnh gốc đã đặt trước đó (giá, khối lượng, mua hay bán). Lệnh sữa đổi chỉ được chấp thuận khi lệnh gốc chưa được thực hiện. c. Lệnh huỷ bỏ (Cancel order) Lệnh huỷ bỏ là lệnh do khách hàng đưa vào hệ thống để huỷ bỏ lệnh gốc đã đặt trước đó. Lệnh huỷ bỏ chỉ được chấp nhận khi lệnh gốc chưa được thực hiện. Đi kèm các lệnh cơ bản trên là các định lệnh chuẩn. Định lệnh chuẩn là các điều kiện thực hiện lệnh mà nhà đầu tư quy định cho nhà môi giới khi thực hiện giao dịch. Khi kết hợp các định lệnh chuẩn với các lệnh cơ bản, chúng ta sẽ có một danh mục các lệnh khác nhau. -Lệnh có giá trị trong ngày (Day order) Lệnh có giá trị trong ngày là lệnh giao dịch có giá trị trong ngày. Nếu lệnh không được thực hiện trong ngày thì sẽ được tự động huỷ bỏ. -Lệnh đến cuối tháng (Good Till Month- GTM) Lệnh đến cuối tháng là lệnh giao dịch có giá trị đến cuối tháng. -Lệnh có giá trị đến khi huỷ bỏ (Good Till Canceled- GTC) Lệnh có giá trị đến khi huỷ bỏ là lệnh giao dịch có giá trị đến khi khách hàng huỷ bỏ hoặc đã thực hiện xong. -Lệnh tự do quyết định (Not Held- NH) - Lệnh tự do quyết định là lệnh giao dịch cho phép các nhà môi giới được tự do quyếtđịnh về thời điểm và giá cả trong mua bán chứng khoán cho khách hàng. Với loại lệnh này, nhà môi giới sẽ xem xét thị trường và quyết định thời điểm, mức giá mua bán tốt nhất cho khách hàng song không phải chịu trách nhiệm đối với hậu quả giao dịch. - Lệnh thực hiện tất cả hoặc huỷ bỏ (All or Not - AON) Lệnh thực hiện tất cả hoặc huỷ bỏ tức là toàn bộ các nội dung của lệnh phải được thực hiện đồng thời trong một giao dịch, nếu không thì huỷ bỏ lệnh. - Lệnh thực hiện ngay toàn bộ hoặc huỷ bỏ (Fill or Kill- FOK) Lệnh thực hiện ngay toàn bộ hoặc huỷ bỏ là lệnh yêu cầu thực hiện ngay toàn bộ nội dung của lệnh nếu không thì huỷ bỏ. -Lệnh thực hiện ngay tức khắc hoặc huỷ bỏ (Immediate or Cancel- IOC) Lệnh thực hiện ngay tức khắc hoặc huỷ bỏ tức là lệnh trong đó toàn bộ nội dung lệnh hoặc từng phần sẽ phải thực thi ngay tức khắc, phần còn lại sẽ được huỷ bỏ. -Lệnh tại lúc mở cửa hay đóng cửa ( At the opening or market on close Order) Lệnh tại lúc mở cửa hay đóng cửa là lệnh được ra vào thời điểm mở cửa hoặc đóng cửa. - Lệnh tuỳ chọn (Either/or Order hay Contingent Order) Lệnh tuỳ chọn là lệnh cho phép nhà môi giới lựa chọn một trong hai giải pháp: hoặc là mua theo lệnh giới hạn hoặc là bán theo lệnh dừng. Khi thực hiện theo một giải pháp thì huỷ bỏ giải pháp kia. - Lệnh tham dự nhưng không phải tham dự đầu tiên (PNI) Lệnh tham dự nhưng không phải tham dự đầu tiên tức là loại lệnh mà khách hàng có thể mua hoặc bán một số lớn chứng khoán nhưng không phụ thuộc vào thời kỳ tạo giá mới do đó không làm thay đổi giá cổ phiếu, trái phiếu trên thị trường chứng khoán.Loại giao dịch này cho phép người mua hoặc người bán tích luỹ hoặc phân phốichứng khoán trên thị trường mà không ảnh hưởng đến cung và cầu loại chứng khoán đó trên thị trường. - Lệnh hoán đổi (Switch Order) Lệnh hoán đổi là lệnh bán chứng khoán này, mua chứng khoán khác để hưởng chênh lệch giá. - Lệnh mua giảm giá (Buy Minus) Lệnh mua giảm giá là lệnh giao dịch trong đó quy định nhà môi giới hoặc là mua theo lệnh giới hạn hoặc là mua theo lệnh thị trường với giá thấp hơn giá giao dịch trước đó một chút. - Lệnh bán tăng giá (Sell Plus) Lệnh bán tăng giá là lệnh giao dịch trong đó yêu cầu nhà môi giới hoặc là bán theo lệnh giới hạn hoặc là bán theo lệnh thị trường với mức giá cao hơn giá giao dịch trước đó một chút. - Lệnh giao dịch chéo cổ phiếu (Crossing Stocks) Lệnh giao dịch chéo là lệnh mà nhà môi giới phối hợp lệnh mua và lệnh bán với mộtchứng khoán cùng thời gian giữa hai khách hàng để hưởng chênh lệch giá.